+86-15123173615

Nguyên lý và xử lý sự cố chung của hệ thống nhiên liệu PT cho động cơ Cummins

Nov 04, 2024

Hệ thống nhiên liệu PT là biểu tượng giúp phân biệt động cơ diesel Cummins với các động cơ diesel khác. Chữ cái phân biệt PT là viết tắt của áp suất và thời gian, trong khi P dùng để chỉ áp suất nhiên liệu ở đầu vào kim phun. T là thời gian hiệu quả để nhiên liệu chảy vào cốc phun nhiên liệu.

 

info-995-636

 

1, Đặc điểm của hệ thống nhiên liệu PT là (1) phạm vi áp suất phun lên tới 10000-20000PSI (PSI là pound trên inch vuông, khoảng 6,89476kPa), có thể đảm bảo phun nhiên liệu tốt. Sản lượng áp suất nhiên liệu tối đa của bơm nhiên liệu PT không được vượt quá 300 PSI. (2) Tất cả các kim phun nhiên liệu đều có chung một ống cấp nhiên liệu nên ngay cả khi có một lượng không khí lọt vào hệ thống nhiên liệu cũng không làm động cơ chết máy. (3) Bơm dầu PT không cần điều chỉnh thời gian, lượng dầu được điều khiển bởi bơm dầu và vòi phun, công suất động cơ có thể được duy trì ổn định mà không bị mất điện. (4) Khoảng 80% nhiên liệu được dùng để làm mát kim phun trước khi quay trở lại bình xăng, kim phun được làm mát tốt. (5) Tính phổ biến tốt, với một số điều chỉnh được thực hiện cho cùng một máy bơm và kim phun cơ bản, nó có thể được áp dụng cho những thay đổi về công suất và tốc độ của các kiểu động cơ khác nhau trên một phạm vi rộng.

 

Các bộ phận cơ bản của hệ thống nhiên liệu PT bao gồm bình nhiên liệu, bộ lọc nhiên liệu, bơm nhiên liệu PT, ống phân phối nhiên liệu áp suất thấp, kim phun, cần gạt, cần đẩy, cam phun và ống hồi lưu. Trong số đó, bơm nhiên liệu PT bao gồm bơm bánh răng, bộ lọc từ tính, van điều tiết màng xung, bộ điều tốc hai cực, trục ga và van điện từ. Sơ đồ hệ thống nhiên liệu của động cơ được thể hiện trên Hình 1 và sơ đồ dòng nhiên liệu được thể hiện trên Hình 2.

info-815-617

Hình 1 Sơ đồ hệ thống nhiên liệu động cơ

 

info-626-506

Hình 2 Sơ đồ dòng nhiên liệu động cơ

 

Bơm nhiên liệu hút nhiên liệu từ bình nhiên liệu, đi qua bộ lọc và bộ điều chỉnh rồi gửi đến kim phun nhiên liệu. Theo thiết kế của hệ thống PT, khoảng 80% nhiên liệu do bơm PT cung cấp cho kim phun nhiên liệu sẽ quay trở lại bình nhiên liệu qua kim phun trong quá trình vận hành, chủ yếu để làm mát và bôi trơn kim phun nhiên liệu. Nó còn có chức năng chống đóng băng nhiên liệu khi thời tiết lạnh và đưa không khí từ hệ thống PT về thùng nhiên liệu để xả.

 

2, Khắc phục sự cố thường gặp của hệ thống nhiên liệu PT. (1) Khi động cơ khó khởi động hoặc không khởi động được, nguồn điện không đủ, không thể dừng hoặc tắt, thông thường nguyên nhân được coi là do van đỗ bị trục trặc. Đầu tiên dùng trục tay để đóng mở van đỗ. Vặn trục tay vào cho đến khi không thể quay được nữa, điều này được gọi là mở. Khi đỗ xe, hãy tháo trục thủ công cho đến khi không thể quay được nữa. Tiếp theo, tháo van đỗ, làm sạch các bộ phận của van đỗ và mài lỗ bên trong thân van bằng giấy nhám. (2) Khi động cơ đang chạy ở tốc độ không ổn định, trước tiên hãy tháo bộ truyền động điện tử EFC. Nới lỏng các vít lắp, sau đó xoay bộ truyền động EFC 15 độ, tháo và làm sạch bộ truyền động, sau đó lắp lại thân bơm nhiên liệu theo phương pháp sau: lắp bộ truyền động vào thân bơm nhiên liệu cho đến khi mặt bích của bộ truyền động cách xa khoảng 9,5mm. thân bơm nhiên liệu, sau đó dùng lòng bàn tay đẩy nhẹ bộ truyền động vào lỗ lắp EFC của bơm nhiên liệu và xoay nó 30 độ cho đến khi mặt bích của bộ truyền động chạm vào thân bơm nhiên liệu. Siết chặt vít lắp đặt theo chiều kim đồng hồ từ dưới lên, trước tiên siết chặt bằng tay cho đến khi không thể xoay được nữa, sau đó siết chặt bằng cờ lê. Ngoài ra, hãy kiểm tra xem màng chắn của bộ giảm xóc có bị lõm xuống hay có vết nứt ẩn nào không. Đầu tiên hãy tháo bộ giảm xóc, sau đó tháo bộ giảm xóc ra và kiểm tra xem màng ngăn của bộ giảm xóc có bị lõm xuống hay rơi xuống bề mặt cứng kèm theo âm thanh chói tai. Nếu âm thanh bị bóp nghẹt thì cần phải thay màng giảm xóc. (3) Khi động cơ có AFC tăng tốc và có quá nhiều khói hoặc không đủ công suất, có thể điều chỉnh vít điều chỉnh không có không khí (chỉ áp dụng cho AFC lò xo đơn khi vít điều chỉnh không có không khí nằm trên thân bơm nhiên liệu); Nếu khói nhiều thì vặn vào thân bơm; Không đủ lực, vặn ra ngoài. Chú ý: Việc vặn vào và ra được giới hạn trong vòng nửa lượt. (4) Nếu công suất động cơ không đủ cho máy bơm toàn dải và máy phát điện, thì van tiết lưu của trục ga có thể được tăng lên một cách thích hợp, nghĩa là vít giới hạn phía trước có thể được rút lại. Nếu bơm nhiên liệu hoặc trục ga không bị khóa khi hết ga thì không thể thay đổi ga. (5) Khi điều chỉnh tốc độ không tải của bơm nhiên liệu, tốc độ không tải của bơm nhiên liệu có thể được điều chỉnh vì tốc độ không tải được điều chỉnh trên băng thử có cùng giá trị, nhưng máy chủ thích ứng lại khác nhau rất nhiều. Tốc độ không tải của bộ điều khiển tốc độ hai cực được điều chỉnh bên trong vỏ nhóm lò xo hai cực và vít điều chỉnh tốc độ không tải của bộ điều khiển tốc độ VS được sử dụng để điều chỉnh tốc độ không tải. (6) Thay bộ phận lọc ở bộ lọc phía trước của van đỗ. Lưu ý rằng khi lắp phần tử lọc, lỗ nhỏ phải hướng vào trong và đầu lớn của lò xo hướng ra ngoài. (7) Thay vòng chữ O và lò xo của kim phun nhiên liệu. Khi thay thế, đảm bảo không có bụi bẩn lọt vào khoang phun nhiên liệu. Sau khi thay lò xo, hãy lắp lại pít tông kim phun nhiên liệu, đảm bảo rằng nó sạch sẽ, không có bụi bẩn và quay trơn tru mà không bị tắc nghẽn. Ngoài ra, hệ thống nhiên liệu PT có yêu cầu cao về độ sạch của nhiên liệu, hầu hết các lỗi chủ yếu xảy ra do độ sạch của nhiên liệu kém và quá nhiều tạp chất, dẫn đến hư hỏng bơm nhiên liệu. Vì vậy, việc lựa chọn nhiên liệu chất lượng cao, độ sạch cao, sử dụng lõi lọc chính hãng và bảo dưỡng đúng cách là những điều kiện tiên quyết để hệ thống PT hoạt động bình thường.

 

info-690-456

 

Gửi yêu cầu